(1) Phân loại theo quyền lựa chọn, có hai loại: quyền chọn mua và quyền chọn bán:
Quyền chọn mua (Call Options): Sau khi người mua quyền chọn trả một khoản phí quyền chọn nhất định cho người bán, họ có quyền, nhưng không có nghĩa vụ, mua một số lượng hàng hóa cụ thể được quy định trong hợp đồng quyền chọn từ người bán quyền chọn theo một mức giá đã thỏa thuận trước trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng quyền chọn. Người bán quyền chọn có nghĩa vụ bán hàng hóa cụ thể được quy định trong hợp đồng quyền chọn theo mức giá đã thỏa thuận trước theo yêu cầu của người mua quyền chọn trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng quyền chọn.
Quyền chọn bán (Put Options): Sau khi người mua quyền chọn trả một khoản phí nhất định cho người bán, họ có quyền, nhưng không có nghĩa vụ, bán một số lượng nhất định hàng hóa cụ thể được quy định trong hợp đồng quyền chọn cho người bán quyền chọn theo một mức giá đã thỏa thuận trước trong thời hạn hiệu lực của hợp đồng quyền chọn. Người bán quyền chọn có nghĩa vụ mua hàng hóa cụ thể được quy định trong hợp đồng quyền chọn theo mức giá đã thỏa thuận trước theo yêu cầu của người mua quyền chọn trong thời hạn hiệu lực được quy định trong quyền chọn.
(2) Phân loại theo thời gian giao quyền chọn, có hai loại: quyền chọn kiểu Mỹ và quyền chọn kiểu châu Âu:
Quyền chọn kiểu Mỹ: Quyền chọn có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào trong thời hạn hiệu lực được quy định trong hợp đồng quyền chọn.
Quyền chọn kiểu châu Âu: Là quyền chọn chỉ có thể được thực hiện vào ngày hết hạn được quy định trong hợp đồng quyền chọn. Người mua quyền chọn không thể thực hiện quyền trước ngày hết hạn của hợp đồng, và hợp đồng sẽ tự động vô hiệu sau ngày hết hạn.
Hầu hết các quyền chọn cổ phiếu là quyền chọn kiểu Mỹ, trong khi quyền chọn chỉ số thường là quyền chọn kiểu châu Âu.
(3) Phân loại theo tài sản cơ sở trong hợp đồng quyền chọn, có quyền chọn cổ phiếu, quyền chọn chỉ số cổ phiếu, quyền chọn lãi suất, quyền chọn hàng hóa và quyền chọn ngoại hối.